Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm(mẫu 1)

Rate this post

Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm (mẫu 1)

Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (mẫu 1)

Đề bài:

Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.

Bài làm:
Thâm Tâm làm bài thơ Tống biệt hành vào năm 1940 để tiễn một người bạn ra đi theo chí lớn. Có thể coi đây là một trong những bài thơ hay nhất của trào lưu Thơ mới. Trước hết là nhan đề bài thơ. Tống biệt là tiễn đưa, hành là một thể thơ cổ điển của Trung Quốc vừa trữ tình vừa tự sự, hình thức tương đối tự do, không theo niêm luật chặt chẽ như thơ Đường. (Ví dụ: Tì bà hành). Tống biệt hành viết về cuộc tiễn đưa và tình li biệt. Nó mang dáng dấp của một bài thơ cổ, phảng phất dư âm ngàn xưa. Đề tài tuy không mới nhưng cách diễn đạt thì hết sức độc đáo. Đây là cuộc chia tay của một người trai nặng lòng hiếu thảo nhưng phải giã từ gia đình ra đi theo nghĩa lớn. Bài thơ vừa thể hiện tình cảm lưu luyến trong các cuộc tiễn biệt đương thời, vừa tiêu biểu cho các cuộc chia li muôn thuở.

Bài thơ có hai nhân vật: người tiễn và người đi. Tình cảm của người đi có lúc biểu hiện qua tâm trạng của người tiễn. Từ câu đầu đến câu cuối của bài thơ đều nhằm miêu tả diễn biến phức tạp của tâm trạng người đi. Tâm trạng ấy chỉ có người đưa tiễn là tri kỉ mới cảm thông và thấu hiểu:

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy,
Một giã gia đình, một dửng dưng…

Khổ thơ miêu tả tình người ra đi và tình người ở lại. Hai câu thơ trên là nỗi lòng người đưa tiễn được diễn tả bằng tiếng sóng ở trong lòng (âm thanh). Hai câu thơ sau là tâm sự người ra đi được thể hiện bằng hoàng hôn trong mắt trong (hình sắc). Khung cảnh ở đây rất bình thường, không hề có động thái gì can thiệp đến tình người. Khác hẳn quan niệm xưa trong văn chương: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, vậy mà nỗi buồn chia phôi đều có đủ.

Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm (mẫu 1)

Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm (mẫu 1)

Đưa người, ta không đưa qua sông, câu thơ toàn thanh bằng tạo nên âm hưởng bâng khuâng, xao xuyến, giống như lời lòng tự hỏi lòng của người đưa tiễn. Cách xưng hô ta với người khiến cuộc tiễn đưa mang khí vị xưa. Cuộc chia tay này không diễn ra trên bến sông nên không có sóng làm tác nhân gợi nỗi buồn li biệt, nhưng cái tiếng sóng của các cuộc biệt li bên sông nước ước lệ trong văn chương từ ngàn xưa đã ngấm vào tâm hồn tác giả, để rồi chính nhà thơ cũng ngạc nhiên khi trong cái không (không đưa qua sông) lại nổi lên cái có (có tiếng sóng ở trong lòng). Ở câu thứ hai, mấy vần trắc liền nhau gợi liên tưởng như có tiếng sóng thật ở trong lòng và nghe trong tiếng sóng dường như có cả hơi lạnh của gió sông.

Sự ra đi của một con người dám trả lời không cho cuộc đời bình an của bản thân và gia đình, dám đánh đổi cuộc sống ấy lấy gian khổ, hi sinh, đó là khí phách. Tiễn đưa con người có khí phách như thế, kẻ ở lại làm sao không nổi sóng ở trong lòng ?! Những cơn sóng âm thầm nhưng là sóng cảm phục, sóng thương yêu. Cái hay của Thâm Tâm là đã miêu tả nội tâm bằng chính nội tâm của nhân vật trữ tình.
Buổi chiều chia tay cũng bình thường như bao chiều khác, không có gì đặc biệt: Bóng chiều không thắm, không vàng vọt nhưng hoàng hôn lại đọng đầy trong mắt kẻ ra đi. Hoàng hôn trong mắt là buồn và lo, là nhớ thương, lưu luyến khi tiễn biệt. Ở câu thơ này nó còn có một ẩn ý khác. Đó là sự tương phản giữa ngoại cảnh và nội tâm, giữa dáng vẻ bề ngoài và diễn biến tâm trạng giằng xé bên trong của người đi.
Buổi chiều chưa nhạt nắng (Bóng chiều không thắm không vàng vọt), vậy mà hoàng hôn đã vội buông đầy trong mắt trong. Bề ngoài người đi tỏ ra bình thản nhưng đây là thái độ lạnh lùng thực sự hay chỉ là sự ghìm nén bao cảm xúc dang trào dâng trong lòng? Người ra di cố cưỡng lại tình cảm nhưng tình cảm vốn tự nhiên nên nó vẫn cứ dâng trào. Nỗi buồn li biệt dù che giấu kín đáo đến mấy vẫn hiện ra. Người bạn tri ki đã thấy rõ bỏng hoàng hôn trong mắt trong của người đi.
Khổ thơ đượm một nỗi buồn nhưng nỗi buồn ấy là tình cảm tự nhiên và trong sáng. Để thể hiện, Thâm Tâm đã sử dụng những hình ảnh đẹp vừa mang phong vị cổ điển, vừa có phần sáng tạo riêng rất hiện đại: sóng lòng, hoàng hôn trong mắt… và từ ngữ giàu khả năng gợi tả. Bên cạnh đó là nghệ thuật phối hợp âm thanh cũng như đặt lời thơ trong Ồm diệu nghi vấn: sao có tiếng sóng, sao đầy hoàng hôn… để thể hiện cảm xúc xao xuyến, bồi hồi. Đây là đoạn thơ hay và đẹp của bài thơ.
Vậy người ra di là ai mà buổi chia li quyến luyến và nặng tình đến thể?
Đài thơ lặp lại bảy lần từ người: đưa người, đưa người, đưa người, người buồn, người buồn, người đi, người đi nhưng vẫn chưa giúp ta hiểu gì về người đó. Ta chỉ biết người ra đi có một gia cảnh thật khó khăn: mẹ thì già, hai người chị luống tuổi muộn chồng, em còn thơ dại. Là con trai lớn, lẽ ra anh phải ở nhà chăm sóc mẹ già, giúp đỡ các chị, dạy bảo em thơ thì mới thuận cảnh, thuận tình. Nhưng là một nam nhi ôm mộng lớn, mơ nghiệp lớn, anh rơi vào mâu thuẫn giữa tình nhà và chí lớn, giữa bổn phận và khát vọng. Khát vọng giục anh lên đường, bổn phận níu anh ở lại. Là một trang nam nhi nên anh phải ra đi. Để có thể ra đi, anh phải dùng cả lí trí và ý chí để dằn lòng, để tự lí giải, biện hộ cho cuộc ra đi của mình. Con người không tên tuổi nhưng quyết ra đi ấy là chủ thể trữ tình của bài thơ.
Bài thơ có hai nhân vật nhưng chỉ có một tâm trạng. Người tiễn chỉ biết có người đi: Đưa người, ta chỉ đưa người ấy. Câu thơ cho ta thấy tuy đã xác định cho mình nỗi đau chia biệt nhưng người tiễn vẫn cứ ngỡ ngàng, thảng thốt. Ra đi là chưa biết bao giờ trở lại nhưng người ra đi có thái độ: Một giã gia đình, một dửng dưng. Tuy cố tỏ ra mạnh mẽ, dứt khoát nhưng trong lòng vẫn không khỏi vấn vương. Vì thế mà phải tự động viên:
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Li khách là từ sáng tạo độc đáo của riêng Thâm Tâm dùng để gọi người đi với thái độ trân trọng. Nó làm cho người đọc nhớ đến hình ảnh của Kinh Kha: Nhất khứ hề bất phục hoàn (một đi không trở lại) trong thơ cổ điển Trung Hoa. Người ra đi phải chấp nhận hi sinh tình nhà và hi sinh bàn thân vì nghĩa lớn.
Chí nhớn mà đường nhỏ. Con đường nhỏ là con đường mới mở, gập ghềnh, đầy nguy hiểm. Cuộc đi chưa thấy có hứa hẹn gì cho việc xây nên nghiệp lớn ngoài sự háng hái tinh thần.
Ra đi là để thực hiện chí nhớn. Xông pha vào chốn hiểm nguy là cầm chắc khó khăn, gian khổ, nhưng người đi đã tự xác định lập trường bằng bao chữ không: không bịn rịn gia đinh, là dửng dưng, nhằm vào con đường nhỏ kia mà đi, không xong chi nhớn thì không nói trở lại quê nhà, dù Ba năm, mẹ già cũng đừng mong. Cho nên cái Chí nhớn chưa về bàn tay không ấy nó thiêng liêng, xúc động nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi, thương cảm.
Còn đối với chị em trong gia đình thì tình cảm của người ra đi như thế nào?
Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay,
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc
Gói trộn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người ra đi có vẻ hào hùng, hăng hái nhưng thật ra là buồn; buồn từ chiều hôm trước, buồn đến sáng hôm nay. Chia tay cuối mùa hạ, trong ao lác đác mấy đóa sen nở muộn. Hai chị gạt dòng lệ sót để khuyên em. Chữ sót thể hiện tình chị thương em và cho thấy hết nỗi nhọc nhằn trong đời chị. Buổi tiễn đưa: Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay. Em nhỏ nhìn anh với đôi mắt biếc mà lặng thầm gói tròn thương tiếc trong chiếc khăn tay.
Người ra đi trong chí lớn, trong quyết tâm nhưng vẫn dành cho mẹ già, cho các chị, cho em nhỏ những tình cảm tha thiết nhất, dù cố nén vào trong. Hai chị như sen cuối hạ, vẻ đẹp đã tàn phai. Một chị, hai chị là đếm sen mà nghĩ đến phận chị. Câu thơ nói tắt, tạo được ý lạ. Còn câu: Bây giờ mùa hạ sen nở nốt, đọc qua một lần thấy không liên kết vào đâu (cũng giống như câu: Giời chưa mùa thu tươi lắm thay), vì mạch thơ đang tả tâm trạng lại nói đến chuyện sen nở. Tuy vậy những chi tiết bất ngờ đó đã được khai thác và hoà nhập vào mạch thơ. Hình ảnh mùa hạ sen nở nốt đã dẫn đến liên tưởng Một chị hai chị, cũng như sen. Tương tự như thế, ở đoạn dưới, hình ảnh Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay cũng liên quan đến đôi mắt biếc của đứa em nhỏ ngây thơ.
Mẹ thì già, hai chị thì lận đận, em thì còn nhỏ… Gia cảnh ấy đủ làm nhụt chí người đi, tưởng chẳng thể nào đi được. Thế mà: Người đi? ừ nhỉ, người đi thực! Hai chữ ừ nhỉ thể hiện nỗi thẫn thờ, nuối tiếc. Mở đầu bài thơ, viêc ra đi đã xác định rõ, sao đến cuối bài còn như vậy? Ấy là người đưa tiễn vẫn cứ hi vọng tuy rất mong manh là đến phút cuối, cuộc ra đi sẽ không thành. Niềm hi vọng này không được nói ra vì mọi sự chuẩn bị tâm lí đều dành cho sự ra đi. Nhưng sự ra đi ấy vẫn cứ gây ra cảm xúc thảng thốt không ngờ. Hai chữ ừ nhỉ lại cả cái chí nhớn, một đi không trở tại ở trên, khiến cho sự ra đi trở thành việc bất đắc dĩ ở lại thì bế tắc nhưng ra đi cũng chưa thấy gì tươi sáng. Mấy câu thơ cuối kết tụ nỗi buồn trong lòng cả kẻ ở lẫn người đi:
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Mỗi câu thơ nhắc đến một đối tượng: Mẹ, chị, em nhưng đều là một phần máu thịt, một phần linh hồn của người đi. Điệp ngữ thà coi như nhắc lại ba lần, mỗi lần đi liền với một ẩn dụ so sánh: chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say là những thứ tồn tại mà như không tồn tại. Người ra đi coi mình là không đáng kể. So sánh như thế là để an ủi người thân và khẳng định thêm quyết tâm ra đi.
Người ra đi đã đi thật rồi, mọi điều quyến luyến vấn vương coi như chấm dứt. Người đi sẽ nhẹ lòng, người ở lại rồi cũng sẽ nguôi ngoai, cấu trúc ba câu thơ lặp lại cùng một âm điệu gần như dứt khoát, không thể khác được, tưởng như là tiếng khóc muốn vỡ òa mà cố cắn răng kìm nén để không bật lên thành tiếng của hai người bạn thân thiết trong phút chia tay.
Chi vì ôm ấp hoài bão lớn mà người ra đi chấp nhận sự chọn lựa nghiệt ngã giữa khát vọng và bổn phận, chứ đâu phải anh là kẻ có trái tim vô cảm, sắt đá! Tất cả những éo le ngang trái của cảnh ngộ, quy luật khắc nghiệt của đời thường, nỗi buồn thương ngậm ngùi của các nhân vật trong bài thơ đều hội tụ ở đây.
Bài thơ chấm dứt trong âm điệu trầm buồn pha chút xót xa. Từ ngữ, hình ảnh có chỗ gợi lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, nhưng cái bâng khuâng khó hiểu của thời đại mà bài thơ diễn tả như nhận xét của Hoài Thanh thì đến nay, chúng ta đã phần nào hiểu được.

Thảo luận cho bài: Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm(mẫu 1)